Trường Trần Cao Vân Hành Khúc

Trường Trần Cao Vân Hành Khúc

Tuesday, March 18, 2014

Hát khẽ bên mồ - Nguyễn Lương Vỵ (cựu hs TCV)

hoa_hue_2

 
I.
Về đứng bên mồ em
Hình như em đi vắng
Hình như bông huệ trắng
Đang gọi bóng mây xa
Hình như trưa vút qua
Hình như thây ma khóc
Dưới mồ chưa khô tóc
Trên đời chưa phai màu
Á đù em đi đâu
Á đù vang tiếng hú
Cơn điên vô sở trú
Cơn điên vô sở cầu
Câu thơ bầm huyết đau
Câu thơ trào huyết nhớ
Mộ còn xanh hơi thở
Trưa còn xanh chiêm bao
Mây trắng bay trên cao
Hay em là mây trắng?!
Cơn điên gào thinh vắng
Cơn điên gào đời điên…
II.
 
Về đứng bên mồ em
Nắng rền trên lá cỏ
Nghĩa địa rền ngất gió
Vút cánh én kêu thương
Lập xuân trên đồi nương
Con bò già chớp mắt
Vườn xưa chưa kịp nhặt
Tiếng khóc thuở ban đầu
Á đù âm trời sâu
Á đù đời lạnh cóng
Tuổi thơ cha khuất bóng
Tuổi già mẹ khóc con
Ta gặm câu thơ mòn
Chữ vô hồn vô nghĩa
Khói nhang rưng mộ địa
Em bay đi xa rồi
Trời đất vốn mồ côi
Vốn mịt mù huyễn mộng
Tiếng ma tru bi thống
Hay tiếng em gọi ta?!
 
III.
 
Về đứng bên mồ ma
Đáp lời sau tiếng gọi:
Điêu linh trọn một gói
Em mang theo cho vui
Kiếp người trọn một nùi
Em mang theo đỡ nhớ
Trời cao kia ấm ớ
Đất thấp kia ỡm ờ
Á đù đời bơ vơ
Á đù người với ngợm
Khóc em lệ chẳng rớm
Mà sao đắng hết lời
Mà sao khô hết môi
Cúi đầu nghe cỏ hát
Hăm mốt ngày thịt nát
Băm tám năm điên tàn
Điên vì thời dã man
Điên vì bầy chủ nghĩa
Xoa mồ em hú vía
Chúc em bay thật xa…
 
Nguyễn Lương Vỵ
Quán Rường, 21.01.2014

Friday, March 7, 2014

Tạ ơn - Thơ Nguyễn Liên


 Cúi đầu vái tạ mông lung
Dung tha cái tội khùng khùng của ta
   Thứ đến xin cảm ơn bà
Đã cho ta một bài ca ân tình
   Mãi mê ngắm ảnh, xem hình
chép vần thơ muộn mối tình phân ly
   Bài ca chắp cánh thiên di
Mình ta đơn lẽ người đi xa vời
   Lại chấp tay tạ ơn đời
Sinh ra ta kíp làm  người mộng mơ
   Đem em ta nhốt vào thơ
Nhốt bao em, thế mà thơ chưa đầy
   Giờ đây cảm tạ cô thầy
Đem chi con chữ nhét đầy đầu ngu
   Đông tàn,xuân lại hè thu
Thơ là hỏa ngục nhốt tù tình em
   Vụng về lại tạ ơn em
Dẫu đời không rượu, say mềm em ơi
   Nếu mai từ giã cõi đời
Mộ bia em khắc một lời : Tạ ơn

Nguyễn Liên

Nhớ Về Việt Dzũng - Nguyễn Văn Mỹ



Ca Nhạc Sĩ MC Người Yêu Nước Việt Dzũng ra đi; Anh đã để lại không những cho gia đình anh, Radio Bolsa, SBTN, trung tâm ASIA, cộng đồng người Việt tị nạn cọng sản sự mất mát lớn lao mà cho cả những người thiết tha với quê hương đất nước Việt Nam trong nước và Hoa Kỳ lòng luyến tiếc nhớ thương vô bờ trong đó có gia đình và than hữu chúng tôi. Anh đã làm những việc phi thường cho người Việt Quốc Gia và cho quê hương dân tộc.
Cầu xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho anh và cũng xin anh tiếp tục cầu xin Ngài cho một Việt Nam sớm được Tự Do Dân Chủ và Nhân Quyền thật sự.

Mời Em Về
(Việt Dzũng)

Tôi muốn mời em về 
Thăm lại Hà Nội xưa
Cổ Ngư chiều đổ lá
Trong mưa buồn lưa thưạ

Tôi muốn mời em về
Thăm lại Sài Gòn xưa
Duy Tân chiều say nắng
Uống môi nồng hương xưa

Tôi muốn mời em về
Nhưng quê hương tôi quá xa
Bên kia bờ Thái Bình bao la

Tôi muốn mời em về
Nhưng chim đã gãy cánh
Nhưng mây đã ngừng bay
Cho tôi còn lại nơi nàỵ

Tôi muốn mời em về
Thăm lại căn nhà xưa
Có mẹ ngồi đâu đó
Sợi tóc bạc đong đưạ

Tôi muốn mời em về
Thăm lại phố phường xưa
Những chiều trời mưa phủ
Lời yêu nói sao vừa.

Dòng Thơ Nầy
 (Nguyễn Văn Mỹ/TCV-QNĐN)

Tôi viết dòng thơ nầy
Gửi người tôi thương mến
Cali ngày đông buồn
Anh bỏ hết ra đi
Tôi viết dòng thơ nầy
Lệ nhòa đôi mắt cay
Nhớ về trong tiềm thức
Tình yêu mến dâng đầy…
Tôi viết dòng thơ nầy
Mời anh về lại Bolsa
Nhưng anh đã đi về nhà cha
Tôi viết dòng thơ nầy
Nguyện cùng anh tiếp nối
Con đường của anh đi
Công lý với nhân quyền…
Tôi viết dòng thơ nầy
Cho người dân nước tôi
Hãy cùng nhau cương quyết
Chống độc ác bạo quyền
Tôi viết dòng thơ nầy
Xin hồn thiêng sông núi
Phù trợ quê hương tôi
Chiếu ngọn đèn Việt Dzũng khắp muôn nơi.

NVM

Tuesday, March 4, 2014

NGƯỜI THẦY HỌC CŨ - Phạm Thanh Chương


Tôi thi vào lớp Đệ Thất (lớp 6) trường Trung học Trần Cao Vân tại Tam Kỳ niên khóa 1961-1962, lúc đó trường chỉ có 5 lớp, từ Đệ Thất đến lớp Đệ Tam. Hiệu trưởng là thầy Tôn Thất Dương Kỳ, gia đình thầy ở một căn phòng cuối dãy trong khuôn viên nhà trường. Cô Khuê, phu nhân thầy Hiệu trưởng cũng là một Giáo sư dạy môn tiếng Pháp (thời đó thầy cô dạy trung học gọi là Giáo sư)

Thầy cô có hai người con, chị Thúy học lớp Đệ Lục trên tôi một lớp, anh Quỳnh Ái học lớp Nhì (lớp 4) trường Tiểu học Tam Kỳ (hiện nay anh Quỳnh Ái là Bác sĩ trưởng khoa cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy Tp.SG)

Thầy hiệu trưởng có một chiếc xe hơi hiệu Citroen, thỉnh thoảng tôi thấy thầy lái xe xuống phố, thầy thường đi một mình, tôi rất sợ mỗi lần gặp thầy.


cô Trịnh Thị Phượng, nữ sinh đẹp một thời TCV

Lần đầu tiên ở quê xuống tỉnh học, tôi bở ngỡ trước mọi thứ, từ cách đi đứng, ăn mặc đến lối sống của những người chung quanh. Tôi thấy xa lạ và rất nhớ nhà, căn nhà vách đất, mái tranh, nơi mà lúc nào tôi cũng mong được trở về.
Lớp tôi có 47 học sinh, cô Â. là giáo sư dạy quốc văn và cũng là giáo sư hướng dẫn (bây giờ gọi là giáo sư chủ nhiệm), cô người Huế, mới ra trường còn rất trẻ, mỗi tuần cô dạy 4 giờ (hồi đó gọi là giờ, không gọi là tiết như bây giờ).
Quốc văn chia ra làm 2 phần, Cổ văn và Kim văn, ngoài các môn học chính, chương trình học còn có các môn phụ như: Hán văn, Âm nhạc và Thể dục…

Dạy nhạc là thầy Lê văn B. thầy ốm và cao lêu nghêu, đặc biệt là lúc nào tôi cũng thấy thầy cười.

Khi lên lớp Đệ Lục (lớp 7), thầy Nguyễn văn H. dạy Quốc văn thay cô Â. Thầy cũng người Huế, ăn mặc giản dị và rất yêu mến đám học sinh “môn đệ” của mình. Có lần thầy dắt cả lớp đi tắm biển, khi chúng tôi đang vui đùa thỏa thích bỗng nghe giọng thầy hốt hoảng “..Phú đâu?..Phú đâu?..” Phú mà thầy đang tìm là anh Nguyễn văn Phú mà chúng tôi thường gọi là Phú Mai Hạc vì nhà anh có xưởng trà nổi tiếng tên Mai Hạc, Phú nhỏ con nhất lớp lại tắm ở cuối bãi bị sóng che khuất làm thầy lo lắng đi tìm và từ đó cho đến khi về, thỉnh thoảng thầy lên bờ đứng đếm từng đứa học trò. Thầy có chiec xe vespa mới toanh, một lần tôi được thầy chở đi làm tôi hảnh diện vô cùng. Đêm về nằm mơ cứ nghe tiếng máy xe nổ “bậc, bậc” phía sau lưng.

cựu nữ sinh Trịnh Thị Phi và bạn..trong Đại Hội TCV và NTH/QT tại San Jose, 2013

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mang tất cả tủ sách của mình ra vỉa hè đường Lê Lợi cạnh nhà sách Khai Trí, trải tấm áo mưa ra bày bán cho người qua đường. Cuộc sống túng quẩn, khốn cùng đã làm cho con người thật thảm hại, cài gì bán được cũng mang ra bán.
Quanh tôi có 3 người thầy ngày trước là giáo sư dạy trại các trường Trung học cũng bán sách ngoài vỉa hẻ như tôi, đó là thầy L. L. Y. (thầy đã mất tại Mỹ)

Và thầy Ng. Riêng thầy V.C thì dạy tại trường Quốc Gia Âm nhạc và Kịch nghệ Huế (thầy cũng đã mất tại Saigon ). Thầy trò gặp nhau trong một hoàn cảnh như vậy lòng tôi mừng mừng tủi tủi và lúc nào cũng rưng rưng chực khóc…
Phải nói người Sài Gòn thật tử tế và sống rất thoải mái dù ở trong hoàn cảnh nào, cái chợ sách tự phát bỗng trở nên nhộn nhịp mà nhà chức trách không dẹp bỏ được do nhu cầu đời sống tinh thần của người Sài Gòn rất cao, do vậy chính quyền dời chợ này vào con đường Đặng thị Nhu gần rạp ciné Nguyễn văn Hảo. 

TQ Hùng và Phượng xưa

Con đường nầy vốn ít người qua lại càng quạnh hiu hơn sau năm 1975. Hơn 50 cái sạp được dựng lên trên con đường mà 2 bên là những ngôi nhà lúc nào “cũng kín cổng cao tường”.
Một buổi chiều đang ngồi bán sách, tôi thấy một người đàn ông cao lêu nghêu đi vào chợ sách, người đàn ông trông quen quen mà tôi không nhớ đã gặp ở đâu, một thoáng, tôi chợt nhớ và chạy ra đường:
- Dạ thưa thầy.

- Em…?

- Thưa thầy em học lớp Đệ Thất 2 trường Trần Cao Vân niên khóa 1961-1962… Hồi đó thầy dạy nhạc.

- Ờ..ờ..

- Mời thầy ngồi.

- Em bán sách cũ ở đây à?

- Dạ

Hơn mười năm mới gặp lại thầy học cũ, trong câu chuyện  “hàn huyên” tôi  được biết thầy hiện đang làm tài xế cho một chuyến xe đò liên tỉnh, tôi nhìn phía sau lưng thầy có một cuốn sách cuộn tròn, đó là một cuốn nhạc lý nổi tiếng của nhạc sĩ Hoảng Thi Thơ, tôi nghe lòng mình rưng rưng, tôi biết trong cơn túng quẩn thầy phải mang cuốn sách “gối đầu giường” ra chợ bán, cái khắc nghiệt của cuộc sống đôi lúc làm cho con người trở nên mặc cảm. Tôi cố gợi lại hình ảnh thân yêu của những ngày tháng cũ, những kỷ niệm êm đềm của những ngày còn đi học để thầy nguôi quên phần nào những nhọc nhằn về cơm áo.

các cựu nữ sinh TCV và NTH/QT duyên dáng trong ĐH San Jose, 2013

-  Thưa thầy, em bán sách cũ nhưng chỉ chuyên bán về sach nhạc

- Thế à?

Thầy ngượng ngùng đưa cuốn nhạc lý cho tôi, tôi cầm cuốn sách trên tay, bìa sách dính đầy dầu mỡ và bong phần tên tác giả, tôi lật từng trang sách đã ố vàng và nói với thầy:

- Nếu thầy không dùng cuốn sách này nữa, xin thầy hãy để lại cho em.

Tôi đưa hết số tiền tôi có trong túi cho thầy, thầy nói:

- Nhiều thế à?

Tôi cười mà trong lòng muốn khóc, thầy hỏi tôi về việc học hành, nhà cửa… rồi thầy cười:

- Thầy nhớ rồi, em ngồi ở bàn cuối.. phải rồi, quê em ở Trà My?

- Dạ.

 
Thầy cười rồi dắt xe đạp ra về.
 

Buổi  chiều thật buồn, mọi người chung quanh đã “dọn hàng” về hết, tôi nhìn ngọn đèn vàng úa ở góc phố. Thật không có nỗi buồn nào giống nỗi buồn nào và cũng không có cái khó nào giống cái khó nào. Trên đường về tôi cứ nhớ mãi cái dáng cao lêu nghêu của thầy, nhớ khuôn mặt khắc khổ của thầy và… lúc nào tôi cũng thấy thầy cười.

Saigon, tháng 5. 2005


Phạm Thanh Chương

Antarctica - Nam Băng Dương - Trinh Hoè


Cách đây khoảng 70 năm, nhạc sĩ Văn Cao sáng tạc bản nhạc Chiến Sĩ Hải Quân,
có câu:
  ".... Thân phơi trên Nam Băng Dương, nước xanh hồn Thái Bình Dương ...."
 
Năm 1970 tôi gia nhập Hải Quân VNCH, mãi đến tháng 4, 1971 tôi mới vào
trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, và hầu như 5 ngày trong tuần
mỗi lần di chuyển từ cấp trung đội trở lên nếu không hát Tiến sóng Vân Đồn, thì
cũng ca bản "Chiến sĩ Hải Quân", đôi khi ca cả hai bản, và đi đều bước!
Riết rồi  "Thân phơi trên Nam Băng Dương, nước xanh hồn Thái Bình Dương"
khắc ghi trong óc, trong đầu tôi cho đến bây giờ.
 


Tôi mơ một ngày đặt chân lên Nam Băng Dương lắm, đặc biệt
khi hai mắt còn mở, để thấy ở đó có gì mà nhạc sĩ Văn Cao ở Việt Nam lại nghĩ đến lời nhạc cho"chiến sĩ Hải Quân Việt Nam" sao mà hùng hồn, khí phách như vậy!
 
Lúc đó tôi mới tuổi đôi mươi, bây giờ tôi sắp sửa 6 bó cộng 4 và giấc mơ trên thành tựu.  Vợ chồngchúng tôi vừa làm 1 chuyến đi Antarctica, khởi hành từ thành phố
Ushuaia, Argentina, 1 thành phố cực nam trên trái đất này!
Xin cảm ơn Trời Phật đã cho chúng tôi có cơ hội này.
Chúng tôi đi 1 chiếc tàu nhỏ, thủy thủ đoàn và toán thám hiểm (expedition team)
63 người, và hành khách tối đa 100 người. Do vậy chúng tôi đi sâu vào các kênh,
vịnh bên trong sâu vào đất liền, và đổ bộ lên đất liền, đảo. Các du thuyền (cruise) lớn
không làm được điều này! Một yếu tố nữa là theo ATS (Antarctica Treaty Systems),
chỉ cho đổ bộ lên bờ mỗi lần không qúa 100 người, có nhiều chỗ giới hạn 50 người.


 
Mỗi năm chỉ mở cửa cho thăm viếng vào mùa hè, từ tháng 12 đến giữa tháng 3 mà thôi. Xin nói thêmtoán thám hiểm có 6 người, họ đa số là những nhà chuyên môn
về chim chóc, cá mập, cá heo (mammals), environments. Trong chuyến đi này, khi tàu di chuyển, haytối (có nghĩa là trời vẫn sáng, 11 giờ đêm mới thấy tối), họ thuyết trình
về hải âu, đời sống về whales, seals, đặc biệt về penguin! Có một người trong toán
từng làm research ở US stations. Những researches, hoạt động của Hoa Kỳ ở antarctica do NSF tài trợ! Anh ta có trình bày cho coi hoạt động của các căn cử Hoa Kỳ
ở đây (tất cả có 5 căn cứ.)
 
Antarctica rộng khoảng 1.5 nước Mỹ! Mênh mông! Bạt Ngàn! Gần như một màu trắng!
Đa số chúng tôi lên các đảo, duy chỉ có 1 lần đổ bộ lên đất liền của antarctica!
Một ước mơ trong đời, tôi mang theo lá cờ vàng ba sọc đỏ. Định cắm lưu niệm ở đó,
nhưng điều lệ về environments của ATS rất nghiêm khắc, không được để 1 vật gì
sót lại, nên tui không làm được ước mơ đó, thôi thì ghi lại bằng hình, chứng cớ
cờ vàng ba sọc đỏ có hiện diện, 1 lần tung bay trên địa lục của Nam Băng Dương
với vợ chồng tôi!
 


Chuyện bên lề:  Vì thấy tui là người Việt nam từ Mỹ, và biết tui là cựu hải quân VNCH,
ông thuyền phó (dân Pháp) đến nói chuyện với tôi, và giới thiệu mẹ ông là người VN
từ Hà Nội, và vợ ông cũng là người VN. Tôi thấy cả vùng trời VN trong trí tôi.
Dù đang ở Nam Băng Dương tôi thấy hình ảnh quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
trước mặt mình! Dù thân tôi đang trôi nổi ở Nam Băng Dương nhưng hồn tôi
đang thả về Biển Đông, Thái Bình Dương!
 
Tui có chụp hình với vị thuyền phó và thuyền trưởng, một kỹ niệm rất qúy!
 
Tôi đã upload lên Picasa 1 số hình ảnh, muốn các bạn xem cho biết.
Xin nói trước chúng tôi không khoe khoang, không quảng cáo vị lợi gì hết.
Muốn chia xẻ vì trước đây anh Lê Tuấn Ngộ, tức nhà thơ Mạc Phương Đình,
bảo tôi, "chú em có cơ hội nên chia xẻ hình ảnh với các anh chị em khác."
 


Đây phải nói là 1 chuyến đi nhớ đời! Rất hên là sau khi vượt qua
"Drake passage", một hải trình đầy sóng gió, nổi tiếng "hắc ám nhất"
trên thế giới, thì biển rất êm, trời trong, và ấm nữa! Do vậy chúng tôi được vị thuyền
trưởng và toán thám hiểm đưa lên đổ bộ nhiều chỗ hơn là ấn định trong chương trình.
Khi đi thăm Antarctica từ Argentina thì có người đặt tên là "Drake shaker" hay gọi đó
là "Drake Tax!". Các bạn sẽ thấy ít nhiều qua hình tui chụp, tuy giới hạn góc độ!
Khi vượt qua  Drake Passage, tôi nhờ dùng thuốc say sóng (patch dán sau cái tai),
nên tôi vẫn khỏe nhưng vợ tôi và 1 số người khác "phải đi nằm". Tôi rất thích
vì lần đầu tiên đi biển, có tuyết rơi! Hôm đi biển khá động! Chiếc tàu "lắc lư con tàu đi!"
 
Sau khi vượt qua Drake Passage, nhất là khi vào được núi che bọc, biển tựa như mặt hồ! Mặt nước phẳng lặng như mặt gương! Khi xem hình các bạn sẽ thấy tui không nói ngoa đâu!
Tôi chưa bao giờ thấy cái hùng vĩ của núi đá với tuyết phủ, và chao ôi  những tảng băng thạch bồng bềnh trên nước qúa ư là "tuyệt đẹp!" Các bạn sau khi xem hình
chắc cũng ồ, chép lưỡi khen thầm và cảm ơn tạo hóa ban cho loài
người những kỳ tích này! 

Trước khi được các nhà thám hiểm khám phá, Antarctica là nơi trên trái đất chưa có con người "thổ dân" sinh sống, thay vì chỉ có triệu triệu con penguins, (Tôi không biết dịch là gì) và nhiều lắm cá mập (whales vài ba loại), cá heo (seals, nhiều loại), và chim

chóc. Bây giờ antarctica có người sinh sống, họ đến như trong điều lệ của ATS là những ngưòi đến làm nghiên cứu  chứ không phải định cư lâu dài! Chắc không ai
muốn ở đây vì mùa đông có thể xuống dưới 50 độ C, hay lạnh hơn nữa!
 
Cá mập:
Chắc ai đi biển mà thấy đàn cá mập đang bơi lòng như rôn vui lên.
Hễ mỗi lần có cá mập là có thấy đàn hải âu bay theo "ăn mót"!
Trước đây ở đảo Deception Island, khu hình vành móng ngựa, nơi lánh bảo rất an toàn,
có 1 cơ xưởng làm cá mập rất lớn. Nhưng trời không tha, khoảng năm 1969, núi lửa
coi như phá hư toàn bộ! Trong hình sau những hình về cá mập, tôi có ghi lại hình
ảnh những căn nhà, ghe, tàu bị núi lửa đốt cháy, dậm chìm, và 1 số người chết!
Nhìn cảnh vật tôi cứ phân vân có phải đây là luật nhân qủa chăng?
Tôi cũng thấy môt bộ xương của cá mập trên bờ, tôi có chụp hình.
Thì ra mọi sinh vật lớn, bé, khôn dại, cũng không thoát khỏi cái luật sinh tử.
 


Penguin:
     Xin kể lại những gì tui học được:
Cái đặc biệt về Penguins là thay lông (molt hay molting).
Lông của con penguin như là áo ấm và waterproof (không thấm nước.)
penguin nó thay toàn bộ lông 1 lần (như thay áo vậy.)
Muốn vậy, con penguin phải làm:

1. Khi nó mọc lông non, nó ăn nhiều lắm, gấp 2 hay 3 lần số lượng ăn thường ngày.
    (Ở antarctica, penguins và seals ăn krills (con tôm nhỏ)

2. Khi molting, con penguin ở trên cạn 2 đến 3 tuần, không xuống nước nên không ăn
    gì cả (Fasting). Ở antarctica, nó uống nước bằng ăn tuyết! Trời sinh!
    Lông mới sẽ đẩy lông củ ra từng mảng. Tôi có chụp hình!
3. Sau đó, bơi xuống nước, ăn bù!
 
Do vậy khi penguin thay lông, du khách tuyệt đối không được lại gần,
hay disturb, vì chúng rất yếu! Ở nam cực con penjuin thay lông, fasting
giống như mấy anh gấu trắng ở bắc cực hibernate (ngủ, fasting
trong mùa đông vậy!)
 
Con penguin con/nhỏ gọi là "chick", cũng giống như tiếng người ta gọi
mấy cô choai choai "high school"!
 
Nhìn con penguin chúng ta không biết con nào đực cái.
Penguin làm tổ (ở antarctica) bằng cách dùng những viên đá nhỏ.
Có chụp hình. Tôi có chụp hình con penguin "ăn cắp" đá làm tổ!
Con penguin nhận ra cha mẹ, con cái của mình qua tiếng kêu.
Cả cha lẫn mẹ thay phiên kiếm mồi cho con cái.
Cha mẹ dạy con penguin "ăn" phải "excercise"!
Tức là sau khi mớm, cho ăn nửa chừng, penguin cha/mẹ
sẽ bỏ con, chạy đi chổ khác, tức là penguin con chạy (dí) theo
để tìm cơm! Sau khi đuổi kịp được mẹ, mẹ cho ăn tiếp!


 
Tôi hỏi người trong toán expedition là nếu con me hay cha
ra biển kiếm ăn bị chết thì sao? Thì đành chịu, con cha hay mẹ
phải bỏ con bơi ra biển kiếm mồi cho con! Trong khi đó
thì con penguin con số phận: hên xui ..xui thì
bị mấy con qụa xực ngon đơ!

Khi lên 1 đảo, khoảng 1/4 triệu con penguin! Penguin every where!
Tôi có thấy nhiều xác penguin chết. Tôi hỏi anh chuyên môn về chim chóc,
penguin là có research nào biết penguin thường chết vì bịnh gì không?
Anh ta trả lời: chưa biết!

Sau hình 1 thi thể của con penguin, có vài ba tấm hình theo sau. Các
bạn hãy xem từ từ để thấy: Penguin và con người: Một đời penguin
chả khác nào một kiếp người! Nếu khác thì chỉ là khoảng thời gian
trên dương thế thôi. Tất cả rồi cũng trở về cát bụi! vạn pháp vô thường!
 
Thôi cũng đã dài: Mời các bạn bấm vào_đây, từ từ xem.
 
Xem nếu không thích .. thì cho tui biết ... lần tới tui sẽ không gởi tới cho bạn
hình ảnh cái công viên, thác Igauzu Falls!  Nghe nói nó là Kỳ quan thứ 7!
Cũng nghe nói, sau khi thấy Igauzu Falls, Đệ Nhất Phu Nhân
Eleanor Roosevelt thốt  lên:
"Poor Niagara!" ...

Tạm phỏng dịch sang tiếng Việt:
 "Tội nghiệp thác Niagara!"

Stay tuned!
Hoè Trịnh

https://plus.google.com/photos/115536195867714766027/albums/5985647763854330321?banner=pwa

Trận chiến chưa tàn - (Cựu GS/TCV) Trần Hoài Thư


…Vào năm học thứ hai, chàng phải chạm trán một mặt trận khác nữa. Khi chàng lấy môn English 102 mà giáo sư nguyên là một lãnh tụ phong trào phản chiến Mỹ. Ông mang cặp kính tròn vo kiểu Beatles, mang cả sợi dây chuyền có vòng bạc phản chiến lủng lẳng trước ngực. Ông luôn luôn kể lại phong trào chống chiến tranh trong những năm 60, với khói cay, dùi cui của cảnh sát, với những người sinh viên đổ máu trên sân trường. Ông tự hào về lần xuống đường tại thủ đô để thách đố Tổng thống Nixon. Ông chửi rủa người lính VNCH. Ông kết tội một đất nước đã mang đến gánh nặng cho dân tộc Mỹ, cả cái mà ông gọi là triệu chứng Việt Nam Vietnam syndrome.  Định đã nghe, bừng bừng với cơn giận dữ và tủi nhục. Có lần Định xuống văn phòng để xin một mẫu drop  (1).  Nhưng có một động lực nào đó bắt chàng phải đứng yên trước người thư ký già. Lời réo gọi vô hình như thúc giục: “Tại sao lại chịu thua? Hãy tham dự, hãy chiến đấu, hãy cho ông ta biết…” Và chàng tiếp tục ngồi lại, tiếp tục nghe những điệp khúc của người cựu lãnh tụ một thời. Chàng quyết định chọn đề tài cho bài khảo luận cuối khóa: “Phong trào phản chiến Mỹ và chiến tranh Việt Nam”
Rõ ràng là một trận chiến mà chàng biết là quá khó khăn. Vâng. Thật khó khăn. Chàng đã ngồi hàng giờ trong thư viện. Việt Nam đầy dẫy trên ngăn bục, trên các tạp chí cũ, trong các microfilm, và sách vở. Việt Nam như một ác mộng, một vết thương không bao giờ lành của xứ sở này. Việt Nam được nhắc nhở khắp nơi, tệ hại như “Quái vật”, “Kẻ giết con nít”, “Kẻ nghiện”, hay những tội ác chiến tranh. Còn quân đội, hàng ngũ của chàng thì được gán cho một thứ quân vô tổ chức, chưa đánh đã chạy, tàn bạo, hiếu sát, đánh thuê… Chàng cảm thấy khổ tâm và cô đơn. Chàng đã không thể tìm một tài liệu nào để giúp cho bài khảo luận của mình. Cho dù khi chính chàng là một pho tài liệu quí giá nhất, và cụ thể nhất!


Phải. Ngay cả những kinh nghiệm mà chàng đã trả bằng cả máu và nước mắt này, chàng cũng không thể dùng chúng để chứng tỏ cho ông thầy này biết. Mục đích của môn English 102 là dạy cho sinh viên về cách thức viết một bài khảo luận. Muốn chứng tỏ quan niệm và lập trường người viết cần phải có tài liệu. Trời ơi. Tài liệu là tôi. Là Nguyễn văn Định. Là người trong cuộc biển dâu này. Là một người đã thấy, đã nghe và đã sống này. Là tên lính phải cúi đầu khóc thầm khi tấn công ngôi làng chỉ toàn là đàn bà, ông lão và con nít. Là những nỗi gào thét trong lửa đạn bời bời, dao đâm phụt máu người, đạn AK, M16 trổ ra những lổ xuyên phá đỏ lòm. Hắn còn đau hơn ông giáo sư này đau. Phỉ nhổ còn hơn ông ta phỉ nhổ. Hắn đã điên cuồng bắn lên trời vì bạn bè hắn chết. Hắn đã ôm xác em nhỏ trong trận pháo kích cuồng điên, không dám nhìn cánh diều dính máu nằm trên sân. Hắn đã thấy đám Bắc quân chạy tán loạn như đàn vịt bên đường xe lửa mà không bắn theo. Và những điếu thuốc mời những tù binh của hắn. Để cuối cùng, hắn đã bị lừa, bị đá, bị vỡ mộng, bị xỏ mũi kéo đi vào cái rọ như cả miền Nam thân yêu, đến độ phải trốn chui trốn nhủi, chạy làng, bị gán : Già không tha, trẻ không từ, tội ác các anh đáng lẽ phải mang ra bắn, nhưng nhân dân, cách mạng khoan hồng…” rập khuôn từ một đám chăn trâu vô học…
Cái tài liệu sống này không đủ làm chứng cho một kinh nghiệm lịch sử sao, thưa ông? Định muốn hét lên, muốn trình hết cả tấm thân đến từ một nơi mà ông ta từng phỉ nhổ. Nhưng chàng bất lực.
Nhưng người ta đã không biết điều đó. Con cháu của chàng cũng không biết được điều đó.

***

Bây giờ rõ ràng cuộc chiến đấu đã trở thành cuộc thách đố. Thách đố như đôi kính tròn vo và mái tóc Beatles của vị giáo sư. Thách đố như cuốn sách đại phản chiến của Ron Kovic: “Born on the fourth of july” mà ông ta đã bắt chàng phải đọc. Chàng đã thức bao đêm trong căn phòng nghèo khó, để lắng nghe tiếng nổ trái phá từ một mặt trận mà chàng quyết định thử lửa. Để sáng hôm sau lại lao vào trận chiến như tên lính cô đơn nhất.

oOo

Nhưng phép lạ đã giúp chàng. Chàng gặp một người tài xế xe bus nguyên là cựu chiến binh VN trong một chuyến xe đêm. Xe chỉ còn hai người. Người tài xế hỏi chàng: Mày đến từ đâu? Chàng trả lời Nam Việt Nam. Người tài xế reo lên mừng rỡ: “Tao cũng có mặt ở đó. Trong hai năm”. “ở đâu?” “Pleiku, Kontum” “Như vậy đơn vị mày là Sư Đoàn một Kỵ Binh Không vận Hoa Kỳ? “”Phải, sao mày biết?” “Tao từng hành quân chung với đơn vị mày. Nhảy trực thăng, diều hâu, nằm đường ở An Khê, Mang Giang”. Người tài xế da trắng bây giờ cười lớn: “Mày là bạn tao rồi.” “Mày nghĩ thế nào về cái nơi mà bọn Mỹ mày gọi là địa ngục?” “Tao nhớ mãi. Tao thương đất nước mày quá. Tao đóng nhiều nơi, từ Đức sang Nhật, Thái Lan, nhưng chỉ có Việt Nam của mày là nơi mà tao nhớ nhất…” “Vì sao?” “Vì dân mày khổ quá, nhưng cũng rất hiếu khách. Còn bọn mày, tao phục. Đánh giặc nhà nghèo, mà đánh giặc giỏi, chịu đựng lại giỏi. Chẳng bì bọn tao…” Hai người trao đổi bao nhiêu điều về những kỷ niệm xưa. Định càng hiểu thêm về một thứ tình mà chỉ những con người cùng hoàn cảnh, cùng mục đích mới cảm thông. Đó là tình chiến binh. Đâu có cần hắn và chàng cùng chung một đơn vị mới cảm thông gần gũi. Trái lại, chính mồ hôi, nước mắt, máu, và bụi đỏ, mưa dầm, mà mỗi người cùng nếm, cùng chịu đựng chung nhau, mới là những yếu tố chính kết hợp họ lại với nhau. Đến nổi, người tài xế chẳng cần đón khách dọc đường nữa và Định cũng quên dừng lại tại trạm quen thuộc nữa…
Và Định nói với Tom nỗi khó khăn của chàng. Tom hứa giúp đở chàng bằng cách giới thiệu thêm vài người cựu chiến binh khác. Hắn nói:”Đó không phải cuộc chiến đấu của riêng cá nhân mày, mà là cuộc chiến đấu của cả bọn tao…Đừng bận tâm, Thịnh ạ…” Định cảm kích đến rưng rưng.

oOo

Lại một mùa Giáng Sinh nữa lại về với Định nơi đất khách. Có một chút gì thê thiết dấy lên từ phía trời xa. Nơi đó, có con đường xưa, có phố cũ, có buổi tối đèn hoa và máng cỏ. Có một chút gì khiến chàng phải chạnh lòng, khi đứng bên khung cửa sổ, nhìn những trận bông tuyết đang tiếp tục rơi xuống dập dìu. Màu trắng xóa phủ ngập đường, mái ngói, hàng cây. Màu trắng xóa từ một mùa Đông trở về đúng hẹn trên một đất nước chưa hề biết gì về chiến tranh. Và chàng vẫn đứng yên. Đứng yên như thế, trong bóng tối của căn phòng trọ nghèo nàn, để nhận ra cõi lòng mình thấm thêm những giòng lệ xa xót của kiếp tỵ nạn.
Đã hai ngày, phòng có hơi sưởi. Hàn thử biểu đã xuống khủng khiếp. Dễ chừng 15 độ F, có nghĩa là ở độ âm C. Có nghĩa là nước đông lại. Hơi thở cũng đông lại. Nước miếng, nước bọt, cũng phải đông lại. Chàng đã phải mở lò gaz, vòi nước nóng, để nước ngập cả bồn tắm, để may ra hơi nóng có thể làm bớt đi cái giá rét kinh hồn từ ngoài trời xâm nhập vào trong phòng. Vợ chàng vừa từ bệnh viện trở về hôm qua, và vì không có xe, nên chàng phải dìu vợ trên con đường ngập tuyết giữa đêm khuya. Bây giờ nàng đang trùm trong tấm chăn dày cộm. Còn chàng thì bất lực để nhìn từng trận bông tuyết mỗi lúc một ồ ạt tấn công xuống đường. Những cụm tuyết như những bông trắng xóa, xiên xiên theo gió, hất lên cao, rồi chụp xuống đất. Ngày xưa, hồi còn ở quê nhà, chàng đã nhìn qua phim ảnh để tưởng tượng đến vẽ đẹp của những vùng tuyết trắng, với mái nhà thờ, với những ánh đèn ấm cúng từ trong nhà, với những em bé ném những quả banh tuyết, hay những người quay quần trước lò sưởi, bên cây giáng sinh óng ánh dây kim tuyến, trong khi ngoài cửa sổ là những trận bông tuyết trắng mượt in đậm…Bây giờ, chàng mới hiểu thế nào là thực tế… Tuyết vẫn ào ạt rơi. Dưới ánh đèn đường, màu tuyết càng trắng hơn, thi nhau xiên xiên in bên khung kính. Thỉnh thoảng vài chiếc xe lướt qua, đèn pha càng chọc thũng cả một vùng trời tuyết trắng, như trong ấy triệu triệu sinh vật li ti quay cuồng…
Chàng đứng yên nhìn xuống đường. Đợi chờ gì ở ngoài đấy. Chàng cũng không biết nữa. Người đưa thư đã qua đường. Vợ chàng thầm thì: “Lạy Trời cho con có thư Việt Nam”. Người đưa thư vào cỗng. Chàng xuống vội thang lầu. Có một phong bì mà chàng nghĩ là chàng không thể ngờ nổi. Đó là tấm cạc chúc mừng Giáng Sinh của ông thầy phản chiến cùng bài khảo luận của chàng. Ông đã cho bài khảo luận của chàng A+.
A+
(1) Mẫu dành cho sinh viên dùng để bỏ môn học mình đã chọn, trong thời kỳ ân huệ  của khóa học, mà không bị  kỷ luật.


Trần Hoài Thư